viet ecology
Article Page
Phát triển năng lượng gió – kinh nghiệm của một số nước
TS Vũ Thành Tự Anh

Năng lượng gió: Mới và đầy sức sống

Mặc dù điện gió bắt đầu được thế giới để ý đến từ 25 năm trước, nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây nó mới khẳng định được vị trí trên thị trường năng lượng thế giới khi sản lượng điện gió tăng trưởng một cách ngoạn mục với tốc độ 28%/năm, cao nhất trong tất cả các nguồn năng lượng hiện có (Hình 1). Sự phát triển thần kỳ này của điện gió có được là nhờ vào một số thay đổi quan trọng trong thời gian qua.

Đầu tiên phải kể đến những tiến bộ về công nghệ có tính đột phá trong thời gian qua đã giúp giảm giá thành điện gió xuống nhiều lần, đồng thời tăng công suất, hiệu quả, và độ tin cậy của các trạm điện gió. Cụ thể là nếu như vào năm 1990, công suất trung bình của một trạm điện gió ở Đan Mạch và Đức chỉ vào khoảng 200 KW, thì đến năm 2002 đã lên tới 1,5 MW và hiện nay các nước này đang phát triển các tuốc bin lớn cỡ 5-10 MW nhằm phát triển các trạm điện gió trên thềm lục địa. Hiệu quả của các trạm điện gió này cũng được cải thiện từ 2 đến 3% mỗi năm, góp phần vào việc giảm 30% giá thành điện gió trong vòng 12 năm(2).

Một lý do quan trọng nữa giải thích sự phát triển đột biến của điện gió trong 10 năm trở lại đây là nguy cơ khủng hoảng năng lượng của các nước đã phát triển cũng như mối quan tâm ngày càng cao của các nước này về bảo vệ môi trường đã tiếp thêm sức mạnh cho những nỗ lực tìm kiếm các dạng năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường, trong đó điện gió hiển nhiên là một ứng cử viên sáng giá.

Trong các nước chủ trương phát triển năng lượng gió, Đức vẫn là nước dẫn đầu với công suất vào cuối năm 2004 lên tới 16.649 MW, chiếm hơn 30% tổng công suất điện gió của thế giới. Ngay sau Đức là Tây Ban Nha và Mỹ lần lượt chiếm 19% và 16% tổng công suất điện gió thế giới. Một điều đáng lưu ý là không chỉ các nước đã phát triển mà cả một số nước đang phát triển (đặc biệt là những nước đông dân như Ấn Độ và Trung Quốc) cũng quyết định đầu tư để phát triển điện gió. Trong phần dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm phát triển điện gió của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc, và Philippines là ba nước có trình độ phát triển không quá cách biệt đối với Việt Nam.

Các bài học của Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines

Ấn Độ

Ấn Độ là một trong hai nước đang phát triển nằm trong Top 10 nước dẫn đầu về công suất điện gió (nước kia là Trung Quốc). Năm 2004, công suất điện gió tăng thêm của Ấn Độ đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau CHLB Đức, Tây Ban Nha, đứng trên cả Anh và Mỹ. Các nỗ lực này đã đưa Ấn Độ vươn lên hàng thứ năm trên thế giới về công suất (Hình vẽ)
Tính đến tháng 3/2005, công suất điện gió của Ấn Độ đạt mức 3.595 MW, và chỉ riêng trong năm 2004 Ấn Độ đã lắp đặt mới được 1.112 MW, đạt mức tăng trưởng 45%. Nếu lấy năm 2000 làm mốc, khi Ấn Độ mới chỉ có 1.220 MW điện gió, thì chỉ sau 5 năm, công suất điện gió của Ấn Độ đã tăng lên 3 lần.

Năm 1980 đánh dấu bước khởi đầu của chiến lược phát triển năng lượng gió của Ấn Độ khi Cơ quan Nguồn năng lượng (sau chuyển thành Bộ Năng lượng) của nước này được thành lập nhằm mục đích đa dạng hóa nguồn năng lượng để phục vụ cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế (tốc độ tăng trưởng bình quân của Ấn Độ trong 10 năm qua là khoảng 6-7 %/năm). Cơ quan này đã tiến hành nghiên cứu, xác định, và triển khai các dự án năng lượng gió và sau đó đưa vào kinh doanh. Chính phủ Ấn Độ cũng đã ban hành một số chính sách ưu đãi để hỗ trợ cho dự án. Các công ty công nghiệp và thương mại, đặc biệt là các công ty tư nhân, đã tận dụng những ưu đãi này của nhà nước để tiến hành đầu tư một cách mạnh mẽ. Kết quả là các công ty này (trong đó 97% là các công ty tư nhân) đã tự sản xuất được các bộ phát điện, và hơn thế, một số nhà sản xuất đã có thể bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình.

Bài học của Ấn Độ cho thấy một khi có chính sách khuyến khích đúng đắn, kết hợp với những nghiên cứu kỹ thuật công phu và định hướng chính sách phát triển rõ ràng của nhà nước thì các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân năng động, sẽ mạnh dạn đầu tư và phát triển thị trường điện gió một cách tương đối hiệu quả mà không cần sự can thiệp và đầu tư lớn của nhà nước. Nếu như các nguồn năng lượng thủy điện và hạt nhân đòi hỏi mức độ đầu tư ban đầu rất lớn và tiềm tàng mức độ ảnh hưởng ngoại tác (externality) cao, và vì vậy thường đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, thì các trạm điện gió có quy mô vừa phải hoàn toàn nằm trong tầm với của các nhà đầu tư tư nhân. Tất nhiên, nhà nước cần tạo cơ sở và hành lang pháp lý cũng như có những biện pháp kiểm tra, giám sát cần thiết để đảm bảo những đầu tư của khu vực tư nhân không đi ngược lại lợi ích của xã hội.