Thanh thảo (artemisisa annua) bắt nguồn từ Á châu (Trung quốc, Việt Nam), hiện nay là một loại cây rất phổ thông có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, mọc tốt ở khí hậu ôn đới hay cao nguyên. Có thể tìm thấy ở các cánh đồng, nông trại, bờ rừng, dọc đường, trên bùn gần bờ sông, rạch... Ở nhiều nơi, chúng trở thành một loại “cỏ dại”. Theo truyền thuyết Trung quốc, trong những cây dược thảo ngoài các cây gạo, kê dùng trong canh nông, thì vua Thần Nông có cho biết là thanh thảo là một dược thảo trị bệnh sốt (fever) tốt. Trong một mộ cổ thời Hán (168 BC) khai quật được ở Mawandu, người ta tìm thấy một tập sách gọi là “Phương thức chữa trị 52 loại bệnh” trong đó có nói về cây thanh thảo. Tập sách y học nổi tiếng nhất là của Xue-Meng (1719-1805) cũng khẵng định cho là thanh thảo chữa dứt bệnh sốt nóng và lạnh (1).
Cây thanh thảo thuộc họ (genus) Artemisia gồm hơn 300 loài, trong số đó có Artemisia annua (thanh thảo), Artemisia absinthium (ngãi tây loại đắng). Artemisia absinthium, một loại cây ngãi tây đắng, được dùng làm thuốc sổ lãi trong ruột non và thuốc trừ côn trùng. Thanh thảo, như ta biết, có tác dụng chống sốt rét nhưng chưa được nhiều người biết cho đến khi gần đây.
Năm 1967, chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung quốc, thực hiện chính sách nghiên cứu chữa bệnh bằng y học truyền thống (đông y). Điều này đòi hỏi xem xét phân tích tất cả các thảo vật được dùng trong thuốc y học truyền thống. Như vậy là có khoảng từ 3,000 đến 5,000 loại thảo vật và các loại tập hợp khác nhau giữa những thảo vật này. Vì thế đây là một công trình rất lớn vẫn còn kéo dài cho đến tận ngày nay.
Ở Trung quốc, bệnh đáng quan tâm hàng đầu trong thập niên 1960 là bệnh
sốt rét, thường xảy ra ở phía tây nam Trung quốc nhất là vào lúc mùa mưa.
Nghiên cứu lúc đầu cho thấy thanh thảo có tác dụng chống ký sinh trùng
sốt rét. Nhưng hợp chất gì trong thanh thảo chủ yếu hiệu nghiệm chống
bệnh sốt rét ?. Những nghiên cứu để tách ra hợp chất hữu hiệu chống sốt
rét đã không thành công cho đến năm 1971 khi hợp chất này được tách ra
thành công từ thanh thảo dùng diethyl ether. Hợp chất tách ra này chữa
lành chuột khi chúng bị nhiễm ký sinh trùng Plasmodium berghei. Một năm
sau, các nhà khoa học thành công tách ly biệt lập tinh chất kết tinh của
hợp chất với cấu trúc hóa học gọi là artemisinene. Hợp chất artemisinine
chống ký sinh trùng sốt rét này thuộc loại terpene, chứ không phải là
loại alkaloid hay amine. Hiệu suất lấy artemisinin từ thanh thảo là từ
0.01 đến 0.5% trọng lượng cây. Theo các nhà nghiên cứu Trung quốc thì
hiệu xuất cao nhất là từ cây thanh thảo ở tỉnh Sichuan. Năm 1979, nhóm
nghiên cứu sốt rét Trung quốc, đã có một cuộc thử nghiệm lâm sàng dùng
artemisini trên 2,099 bệnh nhân (1). Một kết quả không tưởng: tất cả đều
trị hết bệnh sốt rét. Thêm nữa, artemisinin dùng trên 143 bệnh nhân sốt
rét với ký sinh trùng đã nhờn thuốc chloroquine và 141 bệnh sốt rét màng
óc với kết quả khả quan. Sau thử nghiệm lâm sàng này, nhiều thử nghiệm
kế tiếp ở Trung quốc và Đông Nam Á cho những kết quả tương tự. Ở Việt
Nam, trong một thử nghiệm lâm sàng năm 1993 (4), với 638 bệnh nhân, dùng
thuốc uống artemisinin cho thấy trong vòng 24 tiếng, 98% ký sinh trùng
sốt rét biến mất. Trong nhóm bệnh nhân dùng thuốc trong 5 ngày, chỉ có
10% là ký sinh trùng xuất hiện lại. Thuốc artemisinin hiệu nghiệm chống
cả hai loại ký sinh trùng sốt rét falciparum và vivax. Trong một thử nghiệm
khác vào năm 1999 (5), kết quả tốt nhất là dùng artemisin và sau đó quinine
trong 3 hay 5 ngày sau.